Thanh khoản thị trường giảm sút khi Trung Quốc và Hồng Kông đóng cửa nghỉ lễ.
Chỉ số Nikkei của chứng khoán Nhật Bản lao dốc 2,31% về 28.773,19 điểm. Chỉ số Topix rộng hơn giảm 2,09%. Thị trường Nhật Bản đang giao dịch ở vùng đáy 1 tháng qua.
Từ đầu tuần, chỉ số Topix đã mất 4,9% – xác nhận tuần giảm sâu nhất kể từ khi thị trường sụp đổ sau khi bùng phát coronavirus vào đầu năm 2020.
“Tâm lý thị trường khá xấu. Các nhà đầu tư đang bắt đầu lo sợ lạm phát không phải là tạm thời do nguồn cung hạn chế kéo dài. Điều đó có nghĩa là kịch bản kinh tế của họ cần được xem xét lại”, một chiến lược gia tại một công ty môi giới Nhật Bản từ chối nêu tên vì không được phép phát biểu trước truyền thông.
Nitori mất 5,9% sau khi nhà điều hành chuỗi cửa hàng đồ nội thất không đạt doanh thu hàng quý như dự báo.
Sumitomo Chemical mất 4,6% sau khi ước tính lợi nhuận trong quý kết thúc vào tháng 9 không đạt được kỳ vọng của thị trường.
Nhà sản xuất bánh wafer silicon Sumco mất 3,2% sau khi công bố kế hoạch bán 128 tỷ yên (1,14 tỷ USD) cổ phiếu mới để tài trợ cho việc tăng sản lượng wafer silicon.
Cổ phiếu Nintendo mất 5,2% trong khi Murata Manufacturing giảm 4,6% và Keyence, công ty lớn thứ hai của Nhật Bản tính theo vốn hóa thị trường, giảm 2,4%.
Đi ngược lại xu hướng, Toshiba đã tăng 3,3% sau khi nhà hoạt động quỹ đầu cơ Hoa Kỳ Elliott Management cho biết họ sở hữu một lượng cổ phần “đáng kể” trong tập đoàn công nghiệp Nhật Bản.
Rakuten đã tăng 3,1% sau khi công ty thương mại điện tử này cho biết họ đang chuẩn bị niêm yết đơn vị ngân hàng trực tuyến của mình.
Chỉ số ASX 200 của chứng khoán Úc đảo chiều giảm 1,93% còn 7190,40 điểm sau khi tăng mạnh trong phiên hôm qua.
Cổ phiếu tài chính trong nước giảm tới 2,6%, trên đà ghi nhận phiên tồi tệ nhất trong hơn 3 tháng, với 4 ngân hàng lớn giảm từ 1,8% đến 2,7%.
Các công ty khai thác mỏ giảm 1,3% vì giá đồng giảm. Bộ ba cổ phiếu khai thác hàng đầu BHP Group, Rio Tinto và Fortescue Metals đã giảm từ 1,5% đến 2,7%.
Cổ phiếu công nghệ giảm 0,8% và hướng tuần tồi tệ nhất 4 tháng. Trong đó, EML Payments, lùi 2,6%, tiếp theo là Megaport, mất 1,8%.
Ngược lại, cổ phiếu vàng tăng 1,8% khi giá vàng bứt phsa hơn 2% do đồng đô la yếu hơn. AngloGold Ashanti và Geopacific Resources là những công ty đạt hiệu suất cao nhất, lần lượt đạt 7% và 6,3%.
Cổ phiếu năng lượng giảm 1,9%, dẫn đầu là cổ phiếu Santos khi rơi 3,9%.
Chỉ số S&P/NZX 50 chuẩn của New Zealand giảm 0,4% xuống 13.225,5 điểm.
Chỉ số Kospi của chứng khoán Hàn Quốc mất 1,61% còn 3019,26 điểm.
Cổ phiếu gã khổng lồ công nghệ Samsung Electronics rơi 1,21%.
Cổ phiếu SK Hynix lại rơi 2,91% sau phiên tăng tốt.
Cùng chiều, cổ phiếu Naver mất 1,55% và cổ phiếu LG Chem sụt 2,91% giá trị.
tygiausd.org
Ấn Độ chính thức tăng thuế nhập khẩu vàng lên 15%: Giải mã lý do và tác động thị trường
10:30 AM 13/05
ING tung dự báo gây sốc: Vàng có thể chạm 5.000 USD/oz
08:50 AM 13/05
Tin sáng 13/5: Dầu thô tăng cao – CPI nóng rực khiến Phố Wall rời đỉnh kỉ lục, Vàng mất ngưỡng $4700
08:35 AM 13/05
Giá vàng ngày 12/5: NĐT chờ tin CPI – SJC đảo chiều giảm dù tăng gần 2 triệu đầu giờ sáng
03:20 PM 12/05
Vàng áp sát 4.775 USD rồi chững lại: Các kịch bản CPI và phản ứng tiềm năng của vàng tối nay
11:00 AM 12/05
Vàng: (XAU/USD) giữ trận trên 1752$ do lợi suất giảm, Mục tiêu 1800$ không còn quá xa
11:57 AM 01/10
Vàng nội – ngoại cùng nhau bật tăng
11:42 AM 01/10
Cà phê hồi phục nhẹ sau phiên giảm mạnh
09:52 AM 01/10
Vàng tăng vọt 40USD sau khi Chủ tịch Fed nhận định nước Mỹ còn quá xa ‘toàn dụng việc làm’
09:42 AM 01/10
Phố Wall khép lại tháng 9 tồi tệ bằng một phiên đỏ lửa
08:22 AM 01/10
TT ngoại hối 30/9: GDP quý II tăng tốt giúp bảng Anh lội ngược dòng, USD vẫn neo mức cao nhất 1 năm
05:37 PM 30/09
Cơn ‘khát’ than của Trung Quốc
05:12 PM 30/09
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
26,330 -20 | 26,360 -20 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 166,300 | 168,800 |
| Vàng nhẫn | 166,300 | 168,830 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |