Hôm nay, chủ đề mà các nhà đầu tư quan tâm nhất chính là lạm phát từ các quốc gia và khu vực quan trọng.
Tại Anh, lạm phát nước này tăng trong tháng 4. Cụ thể, CPI tháng 4 tăng 1,5% so với cùng kì năm trước và tăng 0,6% so với tháng 3 vừa qua.
Đồng thời, lạm phát tại EU cũng tăng trong tháng 4. Với CPI tháng 4 tăng 1,6% so với cùng kì năm trước và tăng 0,6% so với tháng 3 vừa qua.
Tuy nhiên, Chỉ số CPI lõi của EU giảm trong tháng 4. Với CPI lõi tháng 4 chỉ tăng 0,7% so với cùng kì năm trước và chỉ tăng 0,5% so với tháng 3 vừa qua.
Dữ liệu tuần trước cho thấy giá tiêu dùng của Mỹ đã tăng 4,2% trong tháng 4 so với một năm trước đó, đây là mức tăng nhanh nhất trong hơn một thập kỷ, làm dấy lên lo ngại Fed sẽ phải bắt đầu tăng lãi suất sớm hơn dự kiến.
Các nhà hoạch định chính sách của Fed cho biết mức tăng đột biến của lạm phát chỉ là tạm thời và nhắc lại rằng họ kỳ vọng lãi suất sẽ duy trì ở mức thấp, điều này đã khiến đồng Đô la giảm phần nào, mặc dù không phải tất cả đều bị thuyết phục bởi đường lối của Fed.
Biên bản cuộc họp chính sách công bố lúc 18h GMT sẽ cung cấp manh mối về đường hướng chính sách tiền tệ trong tương lai của Fed.
Cập nhật lúc 17h29 giờ Việt Nam, tức 10h29 giờ GMT, chỉ số đô la Mỹ, đo lường sức mạnh của đồng bạc xanh so với giỏ các đồng tiền chính, tiến 0,27% lên mức 89,975 điểm.
Đồng bảng Anh có dấu hiệu bị chốt lời sau phiên tăng nóng, cặp GBP/USD sụt 0,22% về 1,4156.
Đồng tiền chung diễn biến tương tự bảng Anh, cặp EUR/USD lùi 0,14% giao dịch ở 1,2203 sau khi leo lên mức cao nhất kể từ đầu tháng 1.
Yên Nhật không giữ được đà tăng ngày hôm qua, cặp USD/JPY tiến 0,29% giá trị, chạm 109,20.
Franc Thụy Sỹ mất hầu hết lợi nhuận ngày thứ Ba, cặp USD/CHF định tại 0,9017 (+0,45%).
Đồng nhân dân tệ Trung Quốc trong giao dịch nội địa giảm, cặp USD/CNY ở mức 6,4388 (+0,21%).
Lực bán nhóm tiền tệ hàng hóa khá mạnh, đô la Úc, New Zealand và Canada đều yếu hẳn đi. Cụ thể, USD/AUD tiến 0,57%, lên ngưỡng 1,2902. Tỷ giá USD/NZD vọt 0,83%, chạm 1,3901. Trong khi đó, cặp USD/CAD ở ngưỡng 1,2077 (+0,11%).
tygiausd.org
Vàng nhẫn phiên 10/3: Người dân xếp hàng chờ mua giấy – nhẫn trơn BTMC giá cao hơn cả vàng miếng
03:35 PM 10/03
Tỷ giá USD/VND ngày 10/3: Các NH nâng giá bán ra kịch trần nhưng lại giảm giá mua vào
11:15 AM 10/03
Tin sáng 10/3: Phố Wall đảo chiều ngoạn mục, Dầu thô rời đỉnh sau khi Tổng thống Trump phát tín hiệu xung đột sắp kết thúc
08:45 AM 10/03
Giá vàng miếng ngày 9/3: Mở cửa giảm 2,5 triệu rồi hồi phục nhẹ – Diễn biến rất khó lường
12:45 PM 09/03
Tỷ giá USD/VND ngày 9/3: DXY cao nhất 3 tháng – các NH tăng giá mua nhiều hơn giá bán
12:15 PM 09/03
Góc nhìn Giá Vàng: Ông Powell đau đầu, nhăn trán sau tin NFP và cú tăng dựng đứng của giá dầu
04:55 PM 07/03
Khu chợ bày bán hàng tấn vàng, ‘mặc cả’ như mua rau
05:07 PM 19/05
Thị trường vàng tăng tốc: Sớm chạm mức đỉnh tháng 1?
04:37 PM 19/05
Covid-19: Phát hiện biến thể nguy hiểm tại nhiều tỉnh, thành; Chùm lây nhiễm liên quan vợ chồng cựu GĐ Hacinco cực kỳ phức tạp
03:57 PM 19/05
TT vàng 19/5: Đà tăng có dấu hiệu chững lại trước khi biên bản cuộc họp tháng 4 của Fed được công bố
03:03 PM 19/05
Ngóng thông tin từ cuộc họp của Fed, vàng tạm chùn bước
11:12 AM 19/05
Sự hoảng loạn cực độ sẽ đẩy vàng lên 1947$
10:23 AM 19/05
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
27,150 300 | 27,200 300 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 183,100 | 186,100 |
| Vàng nhẫn | 183,100 | 186,130 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |