Chỉ số HSI của chứng khoán Hồng Kông tiến 0,29% giao dịch tại 28.440,28 điểm.
Tại thị trường Hàn Quốc, chỉ số Kospi lùi 0,23% về 3119,89 điểm – chạm đáy một tháng.
Thông tin mới nhất cho thấy lạm phát tiêu dùng của Hàn Quốc đã tăng nhanh lên mức cao nhất gần 4 năm vào tháng 4, chủ yếu do mức giá thấp của năm 2020 và giá dầu và nông sản tăng.
“Động thái bán khống đang đè nặng lên tâm lý nhà đầu tư Hàn Quốc, trong khi thị trường dường như đã mất phương hướng sau khi của báo cáo thu nhập doanh nghiệp”, dẫn quan điểm nhà phân tích Huh Jae-hwan của công ty chứng khoán Eugene Investment & Securities.
Cổ phiếu LG Chem và Hyundai Motor lần lượt tăng 1,1% và 2,29%.
Cổ phiếu hãng công nghệ hàng đầu Samsung Electronics tiến 0,73% trong khi cổ phiếu SK Hynix lùi 0,38%.
Tại thị trường Úc, chỉ số ASX 200 tiến 0,47% lên 7061,70 điểm.
Dữ liệu chính thức được công bố hôm thứ Ba cho thấy thặng dư thương mại của Úc thu hẹp trong tháng 3. Theo Cục Thống kê Úc, thặng dư thương mại được điều chỉnh theo mùa trong tháng 3 đạt 5,574 tỷ đô la Úc (khoảng 4,31 tỷ USD). Đó là mức sụt giảm hơn 2 tỷ đô la Úc so với tháng 2.
Chỉ còn ít phút nữa Ngân hàng trung ương Úc sẽ công bố quyết định lãi suất tháng 5, các nhà phân tích dự báo RBA giữ nguyên lãi suất thấp 0,1%.
Các công ty khai thác hạng nặng dẫn đầu về mức tăng trên bảng điện tử, tăng tới 2%, với các công ty khai thác quặng sắt khổng lồ BHP Group và Rio Tinto ghi nhận cổ phiếu lần lượt tiến 2,2% và 1,8%.
Trong số các công ty khai thác vàng, De Grey Mining và Pantoro là những công ty tăng giá nhiều nhất, lần lượt bứt phá 8,6% và 4,9%.
Chỉ số năng lượng tăng 1,5% sau khi giá dầu tăng hơn 1% qua đêm do các dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ ở Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Trong số các cổ phiếu giảm giá, nhóm công nghệ giảm 0,78% sau khi Nasdaq Composite đêm qua trong sắc đỏ. Các công ty công nghệ của Úc như WiseTech Global và Afterpay lần lượt đi xuống khoảng 1,9% và 0,9% giá trị.
Cổ phiếu ngân hàng giảm 0,3%, trong đó Bank of Queensland và Bendigo và Adelaide Bank dẫn đầu mức giảm. 3 trong số “Big Four” giao dịch trong sắc đỏ, trong khi Westpac Banking Corp tăng tới 0,7%, kéo dài mức tăng sang ngày thứ hai sau khi báo cáo thu nhập tiền mặt nửa đầu năm tăng hơn ba lần.
Tại New Zealand, chỉ số S&P/NZX 50 chuẩn tăng 0,3% lên 12.806,39 điểm, đánh dấu phiên tăng thứ năm liên tiếp.
Các mã tăng giá nhiều nhất là Mainfreight, tăng 1,74%, tiếp theo là Genesis Energy và Spark New Zealand, mỗi mã tăng khoảng 1,5%.
tygiausd.org
Tỷ giá USD/VND ngày 11/3: TGTT giảm 3 đồng xuống 25.059 – giá bán tại các NH giảm theo
02:00 PM 11/03
Vàng nhẫn phiên 10/3: Người dân xếp hàng chờ mua giấy – nhẫn trơn BTMC giá cao hơn cả vàng miếng
03:35 PM 10/03
Tỷ giá USD/VND ngày 10/3: Các NH nâng giá bán ra kịch trần nhưng lại giảm giá mua vào
11:15 AM 10/03
Tin sáng 10/3: Phố Wall đảo chiều ngoạn mục, Dầu thô rời đỉnh sau khi Tổng thống Trump phát tín hiệu xung đột sắp kết thúc
08:45 AM 10/03
Giá vàng miếng ngày 9/3: Mở cửa giảm 2,5 triệu rồi hồi phục nhẹ – Diễn biến rất khó lường
12:45 PM 09/03
Vàng khởi sắc trước sự bất ổn của thế giới
11:22 AM 04/05
Phiên 3/5: Phố Wall, dầu thô khởi động tháng 5 đầy lạc quan
08:38 AM 04/05
Phiên Mỹ đêm 3/5: Niềm tin quay trở lại
08:27 AM 04/05
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
27,190 40 | 27,240 40 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 184,2001,100 | 187,2001,100 |
| Vàng nhẫn | 184,2001,100 | 187,2301,100 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |