Theo tờ Economic Times (Ấn Độ), ông Irene Cheung, chiến lược gia châu Á tại ngân hàng ANZ cho biết: “Chúng ta sẽ chứng kiến sự suy giảm kinh tế toàn cầu trong năm 2019 và nhất là ở châu Á, các quốc gia, đặc biệt là những nước xuất khẩu đang bị tổn thương”. Theo các chuyên gia kinh tế, mặc dù 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý ngừng cuộc chiến thương mại trong 90 ngày vào tháng 12-2018, đồng thời cam kết sẽ có cuộc hội đàm thường xuyên trong 2 tháng tới, nhưng không chắc chắn về việc họ có thể vượt qua sự khác biệt lớn hay không.
Thuế quan không phải là lực cản duy nhất đối với nền kinh tế Trung Quốc. Động lực chính là nước này phải giảm nợ công. Trong khi đó, do việc kiểm soát chặt chẽ tình trạng ô nhiễm nên hoạt động công nghiệp của Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã chậm lại, chỉ đạt 6,5% trong quý 3-2018, thấp nhất kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Theo khảo sát kinh tế mới nhất do Nikkei tiến hành, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc được dự báo sẽ chậm lại còn 6,2% vào năm 2019.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dự đoán mức tăng trưởng của GDP trong 5 năm từ 2019-2023 cho ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ là 6,1%. OECD đánh giá triển vọng của các nền kinh tế thành viên và không phải thành viên OECD vẫn rất sáng lạng.
Theo báo cáo của OECD, ASEAN sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng 5,2% trong vài năm, trong khi tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại, khoảng 5,9%. Mặt khác, Ấn Độ dự kiến sẽ tăng trưởng lên 7,3% so với mức trung bình 6,9% từ năm 2012 đến 2016. Nhưng chính các thị trường ASEAN mới nổi sẽ tăng trưởng nhanh nhất. Campuchia, Lào và Myanmar sẽ có mức tăng trưởng từ 6,8% đến 6,9%, với Philippines là 6,6% và Việt Nam là 6,5%. Indonesia (5,2%), Malaysia (4,8%) và Thái Lan (4,1%). Theo OECD, tiêu dùng tư nhân là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng ở hầu hết các nước ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ. Đầu tư hướng nội, các dự án cơ sở hạ tầng và xuất khẩu đều tạo ra việc làm. Thất nghiệp thấp có nghĩa là nhiều người kiếm được tiền hơn, đặc biệt là trong trường hợp những người chuyển từ nông thôn đến thành phố, nơi lương cao gấp hai đến ba lần. Theo OECD, bất chấp cuộc chiến tranh thương mại, triển vọng tốt cho các nước châu Á vì sức mạnh của nhu cầu nội địa và niềm tin ngày càng tăng.
Một số nền kinh tế mới nổi có thể cần tiếp tục tăng lãi suất để giữ cho nền kinh tế ổn định vì Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có thể sẽ tăng lãi suất thêm nữa. Việc siết chặt vốn của FED có xu hướng kéo vốn từ các thị trường mới nổi vào Mỹ và điều đó có thể hạ nhiệt tiêu dùng và đầu tư ở các nước, nhất là tại châu Á. Một yếu tố tích cực sẽ là giá dầu thấp hơn, đạt đỉnh vào cuối năm 2018. Vì nhiều nền kinh tế châu Á phụ thuộc nhiều vào tiêu dùng trong nước, giá dầu thấp hơn có thể giúp lạm phát vừa phải và tăng chi tiêu của người tiêu dùng.
Theo SGGP
Vàng và bạc “nín thở” trước lệnh phong tỏa của Mỹ: Cú sốc nào sắp giáng xuống thị trường?
04:15 PM 13/04
Giá vàng sắp bùng nổ? UBP quay lại “gom hàng”, mục tiêu 6.000 USD khiến thị trường dậy sóng
03:50 PM 13/04
Đọc gì hôm nay 13/4: Doanh số bán nhà hiện tại của Mỹ
03:35 PM 13/04
“Bàn tay sắt” của Mỹ tấn công vàng: Vì sao Fed và eo biển Hormuz là nỗi ám ảnh của phe mua?
03:20 PM 13/04
Giá vàng 13/4: Vàng miếng, nhẫn cùng giảm gần 1 triệu khi Mỹ – Iran đàm phán thất bại
12:15 PM 13/04
Chuyên gia Christopher Lewis tiết lộ: Cách bảo vệ tài khoản khi giá vàng rơi vào vùng “hỗn loạn”
07:40 PM 12/04
Dự báo giá vàng tuần 13 – 17/4: Có thể chinh phục 5.000 USD khi căng thẳng Iran hạ nhiệt?
07:30 PM 12/04
Vàng hướng tới tuần tăng giá, rủi ro đến từ tin CPI tối nay
04:40 PM 10/04
“Bắt mạch” giá vàng 2019
08:40 AM 03/01
TTCK: “Nhiều khả năng sẽ điều chỉnh về 880”
08:12 AM 03/01
Bí quyết tư duy của người thành công: Đặt câu hỏi đúng
03:51 PM 02/01
DailyForex: Dự báo giá vàng tuần 31/12 – 4/1
03:14 PM 02/01
Châu Âu chuẩn bị dừng phát hành tờ 500 Euro
03:08 PM 02/01
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
USD chợ đen |
26,860 60 | 26,910 80 |
Giá đô hôm nay |
||
| Mua vào | Bán ra | |
|---|---|---|
| Vàng SJC | 168,500-900 | 171,500-900 |
| Vàng nhẫn | 168,500-900 | 171,530-900 |
Tỷ giá hôm nay |
||
|---|---|---|
| Ngoại Tệ | Mua vào | Bán Ra |
USD |
25,0840 | 25,4540 |
AUD |
16,2380 | 16,9280 |
CAD |
17,7270 | 18,4810 |
JPY |
1600 | 1700 |
EUR |
26,8480 | 28,3200 |
CHF |
28,5820 | 29,7970 |
GBP |
31,8310 | 33,1840 |
CNY |
3,4670 | 3,6140 |